Ba à! Tại sao ngời ta thích rượu bia đến vậy.

Thưa ba!
Con mong ba đọc được những lời này một cách ngẫu nhiên, không phải do con gửi. Vì con biết nếu con nói ra những lời này thì con phạm tội bất hiếu. Nhưng con không nói ra thì tâm con nặng trĩu, không yên được.
Con không thích rượu bia, con ghét nó.
Tuổi thơ con gắng liền với những kí ức kinh khủng về thứ nước đắng ngắt kia. Nó làm người ta mất sớm, con thấy sự gào khóc của bà nội tám khi ông nội mất. Cho đến giờ âm thanh đó vẫn văng vẳng bên tai con.
Tuổi thơ con ám ảnh bởi tiếng gào thét của mẹ khi ba uống rượu về và quậy phá. Con biết trong cơn say và những hành động kia không phải người ba mà con kính mến. Những những âm thanh, hình ảnh đó luôn ám ảnh con.
Khi con đi làm, con tập né tránh. Con càng né mọi thứ càng khó khăn với con. Cái thứ đắng chát kia làm con quay cuồng. Họ bảo không uống là không nể, uống cho vui. Nhưng sao càng uống con càng không vui ba nhỉ.
Con chỉ thấy mệt, thấy tệ hại, thấy đầu óc con mất sự minh mẫn. Chắc khi say ba cũng vậy ba nhỉ.
Mẹ con là một người cam chịu, con được thừa hưởng của mẹ sự cần mẫn, chịu khó, nhẫn nhịn. Nhưng ba ạ, càng nhẫn nhịn con thấy mẹ càng khổ. Con thương mẹ, nhưng con không biết làm gì cả.
Con không ưa thứ đăng ngắt trong cuốn họng và làm con quay cuồng kia. Làm sao con từ chối nó ba nhỉ. Tại sao ba không dạy con từ chối nó. Tại sao ba không dạy con cách nào đó để giao tiếp, làm việc mà không phải lạm dụng nó ba nhỉ. 1 ly thôi là được rồi ba nhỉ, hay nước suối trong bàn tiệc cũng được ba nhỉ.
Con thấy sức khỏe của ba dần không tốt, ba đi làm công trường, có những thứ buộc ba phải có rượu, có bia. Con không thể bắt ép hay giải thích cho mẹ hiểu điều đó. Vì mẹ thương ba, mẹ thương tụi con. Mẹ không muốn nhìn thấy ba say xỉn.
Con mong ba đọc được những lời này, ba gọi cho con và ba cắt bỏ hết những bữa nhậu kia. Ba ở nhà xem phim với bé Trâm, ba phụ mẹ chuyện này chuyện kia. Nhà mình vui biết bao ba nhỉ.
Ba ơi, con ước gì không cần rượu, cần bia mà mọi thứ vẫn tốt, công việc vẫn tốt, các mối quan hệ vẫn tốt. Con có ngu đần quá không ba nhỉ.
Con Trung.

Con người ta gặp nhau nhờ duyên, yêu nhau bởi chữ nợ và chia ly là do phận

Vốn dĩ, con người ta gặp nhau nhờ duyên, yêu nhau bởi chữ nợ và chia ly là do phận…Nếu đã là duyên thì dù có xa cách thế nào cũng tìm được đường gặp lại. Còn đã là nợ, dù có trốn tránh cũng ích chi. Và khi đã là phận thì chẳng ai có thể chống trả được nữa…

Trong đời mình, hẳn ai cũng từng chiêm nghiệm về nhiều mối tình, của ngay chính bản thân mình và những người xung quanh, hạnh phúc, đau khổ đều có. Không ai muốn nhưng do vô tình hay hoàn cảnh đưa đẩy để nhiều tình yêu trở thành một niềm đau.

Thực ra chỉ cần hiểu ra rằng, khi duyên đến, duyên ở hay duyên đi dường như cũng đều do số phận sắp đặt thì dù có đau khổ mấy cũng dễ dàng gạt bỏ. Có những lương duyên khi bắt đầu đã chắc chắn như “ván đã đóng thuyền”. Lại có những duyên phận khi bắt đầu đã định trước là sẽ phải ra đi, dù có bên nhau 5, 10 năm hay lâu hơn nữa.

Là duyên, dù có cách xa nghìn trùng cũng tìm gặp lại.


Thế nên yêu một người không nhất định phải có được người ấy. Nhưng khi đã có được người ấy thì nhất định phải hết lòng yêu thương. Lời nói nghe thật nhẹ nhàng nhưng để làm được không phải dễ. Trong một mối quan hệ, nếu sự chân thành lại gây ra nỗi đau, xin hãy chọn nói dối.

Nếu lời nói dối gây ra vết thương lòng, xin hãy chọn cách im lặng. Nếu im lặng làm bạn đau, xin hãy chọn cách ra đi. Nếu tình yêu là nỗi đau, xin đừng lại gần nó. Hãy luôn nhớ ta luôn là người có quyền chọn lựa.

Nếu những điều mất đi làm ta đau khổ, ta có sợ phải trả giá cho những gì đã qua không? Nếu đắm say làm ta khổ, liệu ta có chọn kết thúc? Nếu theo đuổi làm ta mỏi mệt, có nên chọn lựa cách im lặng? Nếu chia xa là u sầu, ta sẽ tâm sự nỗi lòng ấy cho ai?

Có rất nhiều điều phải đến tận sau này chúng ta mới tỏ rõ. Vốn dĩ có rất nhiều chuyện ngay lúc nó diến ra ta không cảm thấy đau khổ, nhưng ta chẳng thể tìm thấy nó trên con đường phía trước. Có tình yêu sâu sắc nồng nàn nhưng chẳng biết thể hiện ra sao cho thật hoàn mỹ.

Cũng có tình yêu biết là không thể bước tiếp, nhưng không can tâm rời bỏ. Rồi có tình yêu biết là đau khổ, nhưng không thể trốn tránh. Có những mối tình biết là không có tương lai, nhưng con tim đã chẳng thể quay đầu lại.

Trong tình yêu, không có ai có lỗi với ai, chỉ có ai không trân trọng ai mà thôi. Trong cuộc đời, vốn có những tình yêu, dù khắc cốt ghi tâm nhưng chỉ có thể lướt qua. Cho dù đã từng yêu thế nào, do dù ai đã từng là người ra đi thì cuối cùng vẫn chìm trong biển sầu đau, đắm đuối giữ từng kỷ niệm về nhau.

Lúc nào cũng nhìn người khác ngọt ngào bên nhau để lệ lại rơi lặng lẽ. Đó đều là duyên, là phận vậy. Muốn cũng không được mà tránh cũng không xong.

Không có chữ “duyên” thì tình cảm hai người chỉ dừng lại ở mức có cảm tình hay thích trong tâm tưởng mà thôi

Tình yêu đâu phải thiếu là đi tìm, thấy mệt là đổi. Cuộc sống không phải một bộ phim của một con người mà là của hai người. Thời gian trôi qua ngoài cửa sổ. Chúng ta rồi sẽ già cỗi theo thời gian…Chỉ có tình yêu là ở ại.

Trong tim, và mãi trong tâm trí. Thôi thì tất cả là do chữ duyên. Có duyên thì sẽ gặp được nhau, yêu nhau dù trong hoàn cảnh nào. Và vì hết duyên nên xa nhau.

Xét về một mặt nào đó, một động lực đủ mạnh để người con trai đến với người con gái, hay một động lực đủ mạnh để người con gái đến với người con trai cũng đòi hỏi chữ “duyên”. Không có chữ “duyên” thì tình cảm hai người chỉ dừng lại ở mức có cảm tình hay thích trong tâm tưởng mà thôi.

Rồi đến bên nhau, vẫn cần chữ “duyên” để sau đó hai người có thể vượt qua được những khó khăn, sóng gió trong cuộc sống để nên duyên vợ chồng, nắm tay nhau đi đến cuối đời.

Còn đi đến được hôn nhân hay không và sau đó hôn nhân có hạnh phúc hay không là do chữ nghiệp, chữ nợ. Nếu nghiệp tốt thì ta sẽ gặp được người ưng ý.

Nhưng hưởng được hạnh phúc bao lâu, dài hay ngắn lại do bản thân mình vậy. Chọn được người bạn đời tốt mới chỉ đi được 50% chặng đường, 50% còn lại do mình vun đắp, nếu mình bỏ dễ quá thì ắt cuộc duyên ngộ sẽ ngắn ngủi.

“Người mình lấy làm vợ (làm chồng) có thể không phải là người mình yêu nhất, có thể cũng không phải là người yêu mình nhất, mà chỉ đơn giản là họ đến đúng vào cái thời điểm cả hai cùng muốn lập gia đình.”– có lẽ đây là câu nói diễn tả đúng nhất cái quyết định đi đến hôn nhân giữa hai người mà đôi khi người ngoài nhìn vào lại thấy ngạc nhiên.

Ai đó đã từng nói như thế này: “Nếu bạn không còn yêu một người, xin hãy buông tay để người khác có cơ hội yêu cô ấy. Nếu người bạn yêu bỏ rơi bạn, xin hãy giải thoát cho chính mình, để mình có cơ hội yêu người khác”.

Câu nói thẳng thắn và đau lòng biết mấy, dễ có mấy ai đang yêu mà làm được như vậy. Nhưng lại rất có đạo lý, đã dạy cho chúng ta cách cư xử đúng đắn trong tình yêu.

Có những thứ ta có thích thế nào đi nữa nhưng không bao giờ thuộc về ta, có những thứ ta lưu luyến, bịn rịn không dứt nhưng chẳng thể giữ lại cho mình. Tình yêu là bài ca chẳng bao giờ hát đến lời cuối. Đó là một điều kỳ diệu mà cuộc sống ban tặng cho chúng ta.

Thế nên, sống ở đời này, dù chúng ta ý thức được rằng, khi yêu là đầy khổ đau nhưng hầu hết người ta lại muốn yêu 1 lần, muốn 1 lần thôi được chìm trong biển khổ của tình yêu, được “ch.ế.t” với tình yêu. Yêu là duyên, vượt duyên đến nợ, an nhiên với định mệnh ấy thôi.

Mong muốn

Chúng ta sống trong cuộc đời mà bản thân mong cầu nhiều thứ. Những mong muốn thôi thúc ta ước mơ, thành quả làm cho ta xuất ra hành động.


Tuy nhiên số người làm lại ít hơn nhiều so với số người mong muốn. Ta thường phải đối diện với nhiều điều làm ta sợ hãi.

Ta sợ thất bại, sợ bản thân bị chê bai, sợ bị đánh giá...

Ta đám chìm trong những giấc mơ mà sau này sẽ hiện hữu. Ta mong cầu những điều tốt đẹp sẽ đến với bản thân. Ta ước muốn ví tiền sẽ tràn đầy, gia đình sẽ hạnh phúc, con cái sẽ giỏi giang, ngoan ngoãn.

Liệu rằng ta có xứng đáng với điều đó???

Có chứ. Những điều hạnh phúc, niềm vui thì xứng đáng với tất cả những người tích cực và có hành động tốt đẹp. Những mưu cầu vật chất hữu hạn thì phải xem lại hành động tạo ra kết quả như thế nào.

Ta thức dậy với một cơ thể khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng để bản thân hành động thật khôn ngoan. Ta tự trang bị cho mình những niềm vui, sự hi vọng và khát vọng vươn lên. Và ta xứng đáng với thành quả ta mong muốn.

Hầu hết nỗi sợ của con người không có thật mà nếu có nó cũng chỉ là phần nhỏ trong những điều mà ta tưởng tượng lên. Từ đó ta nhùng chân, ý chí hao mòn và bắt đầu đi tìm sự ổn định.

Rất tiếc sự ổn định là hố chôn chứ không phải là bệ phóng cho ướ mơ.

Ai cũng có mong muốn. Nhưng ai sẽ là người hành động để thực hiện nó.

Ai???

Đào tạo nhân sự thực thi trong doanh nghiệp

Đào tạo nhân sự thực thi là công việc của lãnh đạo cấp trung với mục tiêu gia tăng hiệu quả công việc liên tục.

Đào tạo là con đường bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp nhằm mục tiêu cải thiện kết quả làm việc của nhân viên.
Đào tạo nhân viên

Vấn đề của quản lý cấp trung

Mọi nhân viên khi làm việc tại công ty đều mong muốn hai điều: Thứ nhất là thu nhập tốt, thứ hai là phát triển bản thân.

Đây là hai nhu cầu thiết yếu và căn bản. Nếu doanh nghiệp không đảm bảo thì khó giữ chân và có nhiều người tài phụng sự. Doanh nghiệp mạnh cần nhân sự giỏi việc của họ và nhân sự giỏi việc gắng bó với doanh nghiệp tăng giá trị cho mình.

Quan điểm công ty là nơi trả lương cho nhân viên đã qua đi rất xa. Đừng nghĩ rằng nhân viên đi làm tại công ty là để nhận được lượng. Họ tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và nhận lại đúng giá trị xứng đáng với công sức bỏ ra.

Tất nhiên mọi nhân sự đều có những điểm yếu, điểm cần phát triển. Vì vậy với vai trò của một quản lý cấp trung sẽ có 2 hành vi chính:

  • Làm thay công việc của nhân viên cấp dưới.
  • Đào tạo, chỉ nhân viên cách hoàn thành công việc.
Đa phần con người sẽ chọn công việc dễ dàng và mang lợi ích ngắn hạn. Quản lý cấp trung thiếu kỹ năng quản lý cũng chọn việc tương tự như vậy. Họ chọn làm thay công việc của nhân viên để đảm bảo KPI của bộ phận.

Dần dần hành động này sẽ khiến nhân sự thực thi có cảm giác mình không có nhiều giá trị tại công ty. Điều hiển nhiên xảy ra là họ sẽ rời bỏ vì:
  • Nhận lương cao hơn công việc mình làm. Mức lương đứng lại, không tăng trưởng do đóng góp không tăng.
  • Không được đào tạo, phát triển bản thân.

Quan hệ cộng sinh

Doanh nghiệp và nhân sự của doanh nghiệp có mối quan hệ cộng sinh lợi ích. Nhân sự làm việc mang lại giá trị và được trả công tương xứng. Và tất nhiên nguồn lực của con người là có hạn vị vậy quản lý cấp trung không thể làm thay việc của tất cả nhân sự.

Một rủi ro nữa đó là nếu công ty mất quản lý cấp trung kia thì mọi công việc ở bộ phận đó sẽ bị ngừng trệ. Vì vậy việc làm cho nhân sự thực thi tốt lên là cách tốt nhất để công ty trụ lại trên thị trường. Nếu có mất một vài nhân sự thực thi thì cũng có thể dùng quy trình, tài liệu để đào tạo nhân sự mới thay thế.


Quan hệ cộng sinh giữa doanh nghiệp và nhân sự thực thi được nối kết bởi quản lý cấp trung. Họ là những người trực tiếp đào tạo, đánh giá và triển khai công việc với nhân viên của mình. Vì vậy các hoạt động đào tạo cần đối với họ là:
  • Lập kế hoach, tổ chức và hướng dẫn công việc.
  • Hướng dẫn báo cáo, thống kê, đánh giá kết quả.
  • Đào tạo kỹ năng cho nhân viên bám sát với công việc của họ.
Quan hệ cộng sinh này càng gắng bó thì nhân sự càng khó rời doanh nghiệp.

Tư duy của quản lý cấp trung

Quản lý cấp trung không phải là người truyền đạt ý kiến chỉ đạo từ cấp trên xuống cấp dưới. Quản lý cấp trung cũng không phải người làm công việc cụ thể của bộ phận mình.

Điều cần nhất của doanh nghiệp với quản lý cấp trung là thông qua hoạt động tổ chức, đào tạo, đánh giá tác động đến nhân viên thực thi. Tác động này khiến công việc được thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra.

Vậy đối với quản lý cấp trung cần:
  • Giúp nhân viên phát triển kỹ năng và tư duy và mục tiêu tối thượng.
  • Kỹ năng được đào tạo phải sát thực tế công việc của nhân viên.
  • Nhân viên cần được hướng dẫn, đánh giá theo mục tiêu và kế hoạch cụ thể.
  • Sự tăng trưởng trong kết quả công việc phải đồng hành cùng với lợi ích cho nhân viên.

Cách thức đào tạo

Các buổi đào tạo ngắn hướng theo mục tiêu công việc là ưu tiên hàng đầu và cần được thực hiện nhiều nhất. Điều này yêu cầu khả năng nghiên cứu, đánh giá và áp dụng của quản lý cấp trung để sát với thực tế. Tránh trường hợp đào tạo lý thuyết.

Các kỹ năng cần đào tạo chuyên sâu mang tính dài hạn, có thể áp dụng cho toàn thể công ty thì do lãnh đạo cấp cao hoặc thuê ngoài để thực thi. Quản lý cấp trung cần nhìn nhận ra vấn đề cần đào tạo và tham mưu cho cấp trên.

Quy trình lênh kế hoạch đào tạo:

Vấn đề là gì > Tại sao lại xảy ra vấn đề > Nguyên nhân chủ quan và khách quan > Kiến thức, tư duy cần đào tạo > Nội dung cụ thể đào tạo > Đào tạo > Hướng dẫn, đo lường, đánh giá và sửa đổi cho lần đào tạo sau.

80% chủ quán cà phê nghĩ marketing là quảng cáo facebook

Rất nhiều doanh chủ quán cà phê mù mờ về kiến thức marketing khi điều hành việc kinh doanh của mình.

Điều này khiến cho sự thành công của dự án kinh doanh ở mức thấp so với kỳ vọng. Một số ít đơn vị hiểu và vận dụng tốt việc marketing theo khách hàng mục tiêu lại có kết quả kinh doanh rất khả quan. Vậy tư duy thế nào để marketing chuẩn xác và mang lại hiệu quả khi mở quán cà phê.

Marketing khi mở quán cà phê là làm gì?

Marketing trong quán cà phê là hoạt động tiếp thị và giữ chân khách hàng để đạt được mức doanh thu tốt nhất. Lưu ý rằng ở đây mục tiêu chính là tăng doanh thu. Còn vấn đề lợi nhuận thì cần sự can thiệp của các hoạt động tối ưu vận hành.
Marketing trong quán cà phê không phức tạp như trong các mô hình kinh doanh khác vì quy mô và đặc thù của ngành này. Nhu cầu cà phê, thức uống là nhu cầu rất thiết yếu của người tiêu dùng. Xác định rõ điểm khách biệt, phân thích thói quen và hành vi khách hàng để có chiến lược và thông điệp ảnh hưởng rất lớn đến thành công của dự án.
Khách hàng của bạn là ai? Họ ở đâu? Thu nhập và chi tiêu ra sao? Họ quan tâm tới gì? Nhu cầu chính khi đi cà phê của họ v.v. Đó là những câu hỏi bạn cần phải trả lời rất rõ ràng để có thể định vị và tiếp cận được họ thông qua hoạt động marketing.
Theo quan điểm cá nhân của tác giả marketing trong quán cà phê bao gồm hoạt động:
  • Truyền tải thông điệp đến khách hàng mục tiêu.
  • Làm khách hàng đến quán lần đầu và chi tiêu, trải nghiệm dịch vụ.
  • Giúp khách hàng có điều kiện chi tiêu nhiều hơn tại quán biến họ thành khách hàng trung thành.
  • Chăm sóc tệp khách hàng trung thành để giữ chân họ.

Khách hàng trung thành là quan trọng nhất.

70% chủ quán cà phê đều cho rằng việc duy trì khách hàng trung thành mang lại doanh thu và lợi nhuận cho quán. Tại sao vậy?
  • 80% doanh thu của một quán cà phê đến từ 20% khách hàng trung thành.
  • Chi phí để có một khách hàng mới tiêu tốn gấp 5 lần duy trì một khách hàng cũ.
Khách hàng không trung thành với thương hiệu của bạn. Họ trung thành cới trải nghiệm dịch vụ mà bạn mang lại. Thử hỏi xem được mấy khách hàng vẫn tiếp tục đến quán cho dù chất lượng phục vụ của bạn ngày kém đi.
Khi kinh doanh chúng ta chắc chắn không thể phủ nhận khách hàng là điều quan trọng nhất. Vì vậy mới có những câu tương tự như "Khách hàng là thượng đế" hay "Khách hàng là trung tâm". Từ đây dễ dàng thấy rằng những quán thành công không phải giỏi về việc phát triển khách hàng mới. Họ giỏi nhất là giữ chân khách hàng.
Việc làm sao giữ chân và tạo được tệp khách hàng trung thành cũng là một công việc của marketing trong quán cà phê.

Tiếp thị khách hàng mới.

Khách hàng trung thành = Khách hàng mới x tỉ lệ giữ chân.
Việc giữ chân được khách hàng là một câu chuyện về sự thấu hiểu, phụng sự khách hàng của nhân viên, quy trình. Còn việc phát triển khách hàng mới phụ thuộc vào:
  • Truyền miệng, khách hàng cũ giới thiệu khách hàng mới.
  • Kênh truyền thông offline: Banner, tờ rơi, standee.
  • Kênh Digital: Mạng xã hội, google (tìm kiếm và bản đồ).
Tiếp cận khách hàng bằng Content độc lạ

Đây đa phần là công việc marketing của chủ quán cà phê đang làm. Nó mang lại lợi ích nhất định về tăng trưởng khách hàng mới. Tuy nhiên việc chỉ sử dụng kênh mạng xã hội làm mất đi rất nhiều cơ hội có thêm khách hàng cho quán. Kênh google map và offline là 2 kênh có hiệu quả rất cao tuy nhiên ít được sử dụng vì tính phổ biến và khó thực hiện của nó.

Hãy thử tưởng tượng địa chỉ trên google map của quán được hơn 200 người đánh giá với mức trên 4 sao. Thật tuyệt vời điểm đến của bạn là một lựa chọn lý tưởng. Vậy hãy đưa ra những chương trình hấp dẫn để một ngày có ít nhất 5 khách hàng đánh giá địa điểm của bạn. Chỉ sau 1 tháng địa chỉ của bạn sẽ lên top tìm kiếm khi khách hàng cần quán cà phê ở lân cận đấy.

Liên lạc với khách hàng đã tới quán.

Khách hàng kia đã đến quán mấy lần, hây uống thức uống nào?
Hãy tưởng tượng nhân viên của bạn có thể giao tiếp với khách với mẫu câu sau: Chào anh Trung, hôm nay vẫn Robusta 100% trái chín ít đường chứ ạ.
WOA!!! Tôi sẽ là khách hàng trung thành của quán này. Họ quá tuyệt khi nhớ tên tôi và biết tôi thích cái gì. Các quán khác rất ít nơi làm được điều này.
Các công nghệ nhận diện khuôn mặt, ghi nhớ hành vi khách hàng để có thể cung cấp cho nhân viên thu ngân tại quầy thông tin đang được chú ý phát triển. Theo tiếp xúc và dự đoán cá nhân thì năm 2021 chúng ta sẽ nhìn thấy khá nhiều quán cà phê áp dụng công nghệ này để chăm sóc khách hàng tốt hơn.

Anh Trung đã 1 tuần rồi chưa ghé quán, chúng ta nên hỏi thăm và gửi cho anh ấy một khuyến mãi?
Lập tức chủ quán gửi cho anh Trung tin nhắn hỏi thăm và tặng một ly cà phê. Thế là anh Trung cảm thấy được quan tâm và có lợi ích nên lại tiếp tục trung thành với quán.
Các công cụ công nghệ Loyalty giúp việc tự động hoá trong việc chăm sóc khách hàng được tốt và đỡ tốn sức hơn. Điều này sẽ là xu hướng tất yếu của thị trường.

Làm sao để lấy toán bộ thông tin của khách hàng đến quán?
Câu cửa miệng hiện tại của nhiều khách hàng mới vào quán không phải là order món mà là "Mật khẩu wifi là gì". Việc tận dụng kênh wifi marketing để có thể lấy được thông tin khách hàng hoặc tương tác với họ là điều mà nhiều chủ quán cà phê đang nghĩ tới.
    

Kết luận: Việc tự động hóa marketing trong quán cà phê sẽ là đấu pháp hữu ích cho chủ quán cà phê. Tốn ít nguồn lực và có kịch bản rõ ràng giúp chủ quán chủ động hơn trong việc phát triển khách hàng mới. Từ đây có nhiều thời gian để phục vụ khách hàng để giữ chân khách hàng trung thành. Ngoài ra việc tối ưu vận hành, chi phí sẽ giúp quán có lợi nhuận tốt hơn.

Hạnh phúc


Anh, những người họ vì công việc mà không có bạn gái, họ là người hạnh phúc theo cách của họ hay chưa thực sự thành công và hạnh phúc? Em cảm thấy như cuộc đời là một bánh xe tròn mỗi phần góp một miếng trong cái bánh xe. Nếu thiếu, bánh xe sẽ đi chậm hơn. Phải không ạ?
--
Hạnh phúc là cảm nhận cá nhân. Thường thì hài hòa âm dương, có nam có nữ sẽ mang đến cảm giác đầy đủ, mang đến cảm giác hài lòng về cuộc sống. Nhưng nhiều đôi lứa, nhiều cặp vợ chồng, có nam có nữ, có âm có dương mà sao không cảm thấy hạnh phúc?

Đó là bởi vì cảm nhận của mỗi cá nhân rất khác nhau, niềm tin khác nhau, giá trị sống khác nhau, nỗi đau trong quá khứ khác nhau, thậm chí tình trạng bệnh lý khác nhau. Người thì thấy thoải mái hơn với gia đình, người thì hưng phấn hơn với công việc, người thì hết mình với nghệ thuật, người thì cả đời không ra khỏi phòng thí nghiệm. Cùng một con người, giai đoạn này thì họ thích một mình, giai đoạn khác họ lại thích có đôi, rồi sau đó lại thích một mình. Cuộc sống muôn màu.

Nhìn từ ngoài vào thì có thể cho rằng lối sống đó là lệch lạc. Nhìn sâu vào bên trong thì lại thấy điều đó là kết quả hiển nhiên của muôn vàn nhân duyên, muôn vàn biến cố đã từng xảy ra với con người đó. Thế nên mỗi người phải tự hiểu mình, biết chọn và sống như mình mong muốn.

Em nói "đi chậm" hàm ý nhanh là tốt và em chọn nhanh. Sự đời có những lúc cần nhanh, có những lúc lại cần chậm. Nhanh có cũng có nhược điểm. Chậm cũng có ưu điểm: chậm để nhâm nhi, chậm để thưởng thức, chậm để học kỹ, chậm để thấm sâu.

Vấn đề phát sinh khi ta muốn nhanh nhưng lại hành động chậm chạp. Muốn chậm nhưng lại chạy như điên. Cái muốn và cái hành động bất nhất. Thậm chí nhiều lúc ta còn không biết mình thực sự muốn gì.

Ta chỉ có thể giải quyết vấn đề này bằng cách quan sát bản thân, nhận ra cách suy nghĩ của mình, rồi tiến tới thay đổi tư duy, thử nghiệm cách sống mới, rồi học hỏi từ đó. Con đường này, mỗi người phải tự mình đi, không ai đi thay mình được.
Nguồn: Anh Phạm Duy Hiếu.

Sử dụng linh vật (mascot) trong TVC quảng cáo

Linh vật hay mascot là nhân vật đại diện cho thương hiệu, được sử dụng trong các chiến dịch truyền thông, quảng cáo, sự kiện của thương hiệu.

Linh vật đại diện có rất nhiều ứng dụng trong marketing, là công cụ mạnh mẽ giúp thương hiệu gắn kết cảm xúc với khách hàng và chiếm thiện cảm từ các khách hàng tiềm năng. TVC quảng cáo cũng là một địa hạt mà mascot được ứng dụng mạnh mẽ và phát triển mạnh mẽ.

Linh vật sữa tươi Vinamilk

SÁNG TẠO MASCOT NHƯ THẾ NÀO?


Quy trình sáng tạo linh vật bắt đầu từ công việc nghiên cứu tâm lý và thị hiếu của khách hàng mục tiêu, cũng như hiện trạng của thương hiệu để đúc kết ra những phác thảo sơ khởi nhất cho hình dung của một nhân vật đại diện.

Việc xây dựng mascot bao gồm xây dựng nên tất cả những yếu tố liên quan đến bản thân mascot và môi trường mà linh vật sẽ hoạt động để trả lời cả câu hỏi:

Linh vật đó có tên không? Ý nghĩa tên gọi của nó là gì?

Linh vật có một nguồn gốc lịch sử nào đặc biệt?

Linh vật có tính cách, sở thích, niềm tin gì?

Linh vật có ngoại hình như thế nào? Sống trong môi trường gì? Và với ai?

Gia đình và bạn bè của linh vật đó như thế nào?

Trong nhiều trường hợp, nhân vật đại diện không chỉ là một cá nhân, mà là cả một nhóm các nhân vật, một gia đình, một ngôi làng, một thành phố… tùy thuộc vào quy mô của câu chuyện mà thương hiệu cho phép. Các nhân vật đại diện tạo được ấn tượng tốt và thành công sẽ càng khuyến khích những người sáng tạo tiếp tục viết nên những câu chuyện, những chuyến phiêu lưu mới cho mascot.

MỘT SỐ VÍ DỤ

Vinamilk: Dòng sản phẩm sữa tươi ADM.
Thông điệp: Ngày bé cần uống 3 ly sữa Vinamilk để có mắt sáng, dáng cao.
Hình ảnh: Nhanh nhẹn, vui nhộn, thông minh.
Là linh vật cho 1 dòng sản phẩm, không có tên. Nhắm tới đối tượng là các TVC hoạt hình 30s trên Tivi, Youtube. Các mẹ mở cho con xem để chịu ăn.


Lazada: Linh vật thương hiệu
Thông điệp: Mua sắm tiện lợi, giá cả hợp lý, hàng hóa đa dạng.
Đối tượng: Chủ shop là chính.
Hình thức: TVC youtube, Quà tặng chủ shop.

Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

(Marketing Box) - Mô hình cạnh tranh hoàn hảo ngụ ý rằng tốc độ điều chỉnh lợi nhuận theo mức rủi ro là tương đương nhau giữa các doanh nghiệp và ngành kinh doanh. Tuy nhiên, vô số nghiên cứu kinh tế đã khẳng định rằng các ngành khác nhau có thể duy trì các mức lợi nhuận khác nhau và sự khác biệt này phần nào được giải thích bởi cấu trúc khác nhau của các ngành.

5 áp lực cạnh tranh

Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích. Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh. Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động.

Mô hình Porter’s Five Forces được xuất bản lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh. Mô hình này, thường được gọi là “Năm lực lượng của Porter”, được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận. Quan trọng hơn cả, mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.

Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trường nào đó, hoặc hoạt động trong một thị trường nào đó không. Tuy nhiên, vì môi trường kinh doanh ngày nay mang tính “động”, nên mô hình này còn được áp dụng để tìm kiếm trong một ngành nhất định các khu vực cần được cải thiện để sản sinh nhiều lợi nhuận hơn. Các cơ quan chính phủ, chẳng hạn như Ủy ban chống độc quyền và sát nhập ở Anh, hay Bộ phận chống độc quyền và Bộ Tư pháp ở Mỹ, cũng sử dụng mô hình này để phân tích xem liệu có công ty nào đang lợi dụng công chúng hay không.

Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:

Sức mạnh nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm sau:

  • Mức độ tập trung của các nhà cung cấp,
  • Tầm quan trọng của số lượng sản phẩm đối với nhà cung cấp,
  • Sự khác biệt của các nhà cung cấp,
  • Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm,
  • Chi phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành,
  • Sự tồn tại của các nhà cung cấp thay thế,
  • Nguy cơ tăng cường sự hợp nhất của các nhà cung cấp,
  • Chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của ngành.

Nguy cơ thay thế thể hiện ở:

  • Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm,
  • Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng,
  • Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế.

Các rào cản gia nhập thể hiện ở:

  • Các lợi thế chi phí tuyệt đối,
  • Sự hiểu biết về chu kỳ dao động thị trường,
  • Khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào,
  • Chính sách của chính phủ,
  • Tính kinh tế theo quy mô,
  • Các yêu cầu về vốn,
  • Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
  • Các chi phí chuyển đổi ngành kinh doanh,
  • Khả năng tiếp cận với kênh phân phối,
  • Khả năng bị trả đũa,
  • Các sản phẩm độc quyền.

Sức mạnh khách hàng thể hiện ở:

  • Vị thế mặc cả,
  • Số lượng người mua,
  • Thông tin mà người mua có được,
  • Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
  • Tính nhạy cảm đối với giá,
  • Sự khác biệt hóa sản phẩm,
  • Mức độ tập trung của khách hàng trong ngành,
  • Mức độ sẵn có của hàng hóa thay thế,
  • Động cơ của khách hàng.

Mức độ cạnh tranh thể hiện ở:

  • Các rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành,
  • Mức độ tập trung của ngành,
  • Chi phí cố định/giá trị gia tăng,
  • Tình trạng tăng trưởng của ngành,
  • Tình trạng dư thừa công suất,
  • Khác biệt giữa các sản phẩm,
  • Các chi phí chuyển đổi,
  • Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
  • Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh,
  • Tình trạng sàng lọc trong ngành.

Phân tích năm lực lượng cạnh tranh

Mức độ cạnh tranh (Degree of Rivalry)

Trong mô hình kinh tế truyền thống, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đối thủ đẩy lợi nhuận tiến dần tới con số 0, nhưng trong cuộc cạnh tranh ngày nay, các doanh nghiệp không ngây thơ đến mức chịu chấp nhận giá một cách thụ động. Trên thực tế, các hãng đều cố gắng để có được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ của mình. Cường độ cạnh tranh thay đổi khác nhau tùy theo từng ngành, và các nhà phân tích chiến lược rất quan tâm đến những điểm khác biệt đó.

Các nhà kinh tế đánh giá khả năng cạnh tranh theo các chỉ số về mức độ tập trung của ngành, và tỷ lệ tập trung (Concentration Ration – CR) là một trong những chỉ số phải kể đến đầu tiên. Chỉ số này cho biết phần trăm thị phần do 4 hãng lớn nhất trong ngành nắm giữ. Ngoài ra còn có chỉ số CR về tỷ lệ thị trường do 8, 25 và 50 hãng đầu ngành kiểm soát. Chỉ số càng cao cho thấy mức độ tập trung thị phần vào các hãng lớn nhất càng lớn, đồng nghĩa với việc ngành đó có mức độ tập trung cao. Nếu chỉ có một số hãng nắm giữ phần lớn thị phần, thì ngành sẽ mang tính cạnh tranh ít hơn (gần với độc quyền bán). Tỷ lệ tập trung thấp cho thấy ngành có rất nhiều đối thủ, trong đó không có đối thủ nào chiếm thị phần đáng kể. Các thị trường gồm nhiều “mảnh ghép” này được cho là có tính cạnh tranh. Tuy nhiên, tỷ lệ tập trung không phải là chỉ số duy nhất, bởi vì xu hướng định nghĩa ngành mang nhiều thông tin hơn so với sự phân bố thị phần.

Nếu mức độ cạnh tranh giữa các hãng trong một ngành thấp, thì ngành đó được coi là “có kỷ luật”. Kỷ luật này có thể là kết quả của lịch sử cạnh tranh trong ngành, vai trò của hãng đứng đầu, hoặc sự tuân thủ với các chuẩn mực đạo đức chung. Sự câu kết giữa các công ty nhìn chung là không hợp pháp. Trong những ngành có mức độ cạnh tranh thấp, các động thái cạnh tranh chắc chắn bị hạn chế một cách không chính thức. Tuy nhiên, một công ty không chấp nhận tuân thủ luật lệ mà tìm kiếm lợi thế cạnh tranh có thể làm mất đi cái thị trường “có kỷ luật” đó.

Khi một đối thủ hành động theo cách khiến các hãng khác buộc phải trả đũa, thì tính cạnh tranh ở thị trường đó sẽ tăng lên. Cường độ cạnh tranh thường được miêu tả là tàn khốc, mạnh mẽ, vừa phải, hoặc yếu, tùy theo việc các hãng nỗ lực giành lợi thế cạnh tranh đến mức nào.

Để có được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, một doanh nghiệp có thể chọn một số động thái cạnh tranh như sau:
  • Thay đổi giá.
  • Tăng hoặc giảm giá để có được lợi thế ngắn hạn.
  • Tăng sự khác biệt của sản phẩm
  • Cải thiện các đặc tính, đổi mới quá trình sản xuất và đổi mới sản phẩm.
  • Sử dụng các kênh phân phối một cách sáng tạo
  • Dùng hội nhập theo chiều dọc hoặc sử dụng một kênh phân phối mới chưa có trong ngành. Chẳng hạn như trong ngành buôn bán kim hoàn, các cửa hàng kim hoàn cao cấp ngần ngại không bán đồng hồ, hãng Timex đã chuyển tới các cửa hàng thuốc và các đại lý không truyền thống khác. Nhờ đó, hãng đã hoàn toàn làm chủ thị trường đồng hồ có giá từ thấp đến trung bình.
  • Khai thác mối quan hệ với các nhà cung cấp – ví dụ, từ những năm 1950 – 1970, hãng Sears, Roebuck và Co. chi phối thị trường hàng gia dụng bán lẻ. Sears đã đặt ra các tiêu chuẩn chất lượng cao và yêu cầu các nhà cung cấp phải đáp ứng các yêu cầu về chỉ số kỹ thuật và giá sản phẩm của họ.

Cường độ cạnh tranh chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:

Số lượng công ty lớn. Số lượng công ty lớn làm tăng tính cạnh tranh, vì có nhiều hãng hơn trong khi tổng số khách hàng và nguồn lực không đổi. Tính cạnh tranh sẽ càng mạnh hơn nếu các hãng này có thị phần tương đương nhau, dẫn đến phải “chiến đấu” để giành vị trí chi phối thị trường.

Thị trường tăng trưởng chậm. Đặc điểm này khiến các hãng phải cạnh tranh tích cực hơn để chiếm giữ thị phần. Trong một thị trường tăng trưởng cao, các hãng có khả năng tăng doanh thu có thể chỉ do thị trường mở rộng.

Các chi phí cố định cao. Chi phí cố định cao thường tồn tại trong một ngành có tính kinh tế theo quy mô, có nghĩa là chi phí giảm khi quy mô sản xuất tăng. Khi tổng chi phí chỉ lớn hơn không đáng kể so với các chi phí cố định, thì các hãng phải sản xuất gần với tổng công suất để đạt được mức chi phí thấp nhất cho từng đơn vị sản phẩm. Như vậy, các hãng sẽ phải bán một số lượng rất lớn sản phẩm trên thị trường, và vì thế phải tranh giành thị phần, dẫn đến cường độ cạnh tranh tăng lên.

Chi phí lưu kho cao hoặc sản phẩm dễ hư hỏng. Đặc điểm này khiến nhà sản xuất muốn bán hàng hóa càng nhanh càng tốt. Nếu cùng thời điểm đó, các nhà sản xuất khác cũng muốn bán sản phẩm của họ thì cuộc cạnh tranh giành khách hàng sẽ trở nên dữ dội.

Chi phí chuyển đổi hàng hóa thấp. Khi một khách hàng dễ dàng chuyển từ sử dụng sản phẩm này sang sản phẩm khác, thì mức độ cạnh tranh sẽ cao hơn do các nhà sản xuất phải cố gắng để giữ chân khách hàng.

Mức độ khác biệt hóa sản phẩm thấp. Đặc điểm này luôn dẫn đến mức độ cạnh tranh cao. Ngược lại, nếu sản phẩm của các hãng khác nhau có đặc điểm hàng hóa khác nhau rõ rệt sẽ giảm cạnh tranh.

Khả năng thay đổi chiến lược cao. Khả năng thay đổi chiến lược cao xảy ra khi một hãng đang mất dần vị thế thị trường của mình, hoặc có tiềm năng giành được nhiều lợi nhuận hơn. Tình huống này cũng làm tăng tính cạnh tranh trong ngành.

Các rào cản “thoát ra” cao. Đặc điểm này khiến doanh nghiệp phải chịu một chi phí cao, nếu muốn từ bỏ không sản xuất sản phẩm nữa. Vì thế hãng buộc phải cạnh tranh. Rào cản này làm cho một doanh nghiệp buộc phải ở lại trong ngành, ngay cả khi công việc kinh doanh không thuận lợi lắm. Một rào cản phổ biến là tính đặc trưng của tài sản cố định. Khi nhà máy và thiết bị có tính chuyên môn hóa cao thì khó có thể bán các tài sản đó cho những ngành khác. Việc hãng Litton Industries giành được các thiết bị của hãng đóng tàu Ingall Shipbuilding minh họa rõ điều này. Litton đã rất thành công trong thập kỷ 1960 với các hợp đồng đóng tàu cho Hải quân. Nhưng khi chi quốc phòng của Mỹ giảm xuống, Litton nhận thấy rõ khả năng giảm doanh số cũng như lợi nhuận. Hãng quyết định cơ cấu lại, nhưng việc từ bỏ xưởng đóng tàu không thực hiện được, do không bán được các thiết bị đóng tàu đắt tiền và mang tính chuyên môn hóa cao. Cuối cùng, Litton buộc phải ở lại trong thị trường đóng tàu đang xuống dốc.

Rào cản gia nhập (Barriers to Entry)

Rào cản gia nhập (tiếng Anh: Barriers to Entry) là các yếu tố kinh tế, thủ tục, qui định hoặc công nghệ cản trở hoặc hạn chế sự xâm nhập của các công ty mới tham gia vào một ngành công nghiệp hoặc thị trường.



Rào cản gia nhập

Rào cản gia nhập trong tiếng Anh là Barriers to Entry.

Rào cản gia nhập là thuật ngữ kinh tế mô tả sự tồn tại của chi phí khởi nghiệp cao hoặc các trở ngại khác ngăn cản các đối thủ cạnh tranh mới dễ dàng thâm nhập vào một ngành hoặc lĩnh vực kinh doanh.

Rào cản gia nhập có lợi cho các công ty đang hoạt động bởi vì chúng bảo vệ cho doanh thu và lợi nhuận của họ.

Rào cản gia nhập phổ biến bao gồm lợi ích thuế đặc biệt cho các công ty hiện có, bằng sáng chế, nhận diện thương hiệu mạnh hoặc lòng trung thành của khách hàng và chi phí chuyển đổi cao.

Rào cản gia nhập từ chính phủ

Các ngành công nghiệp chịu quản lí và điều tiết bởi chính phủ thường khó xâm nhập nhất; ví dụ các hãng hàng không thương mại, nhà thầu quốc phòng và các công ty cáp. Chính phủ tạo ra những rào cản gia nhập vì những lí do khác nhau.

Trong trường hợp của hàng không thương mại, không chỉ qui định chặt chẽ, mà chính phủ còn giới hạn các thành viên mới tham gia để giới hạn giao thông hàng không và đơn giản hóa việc giám sát. Các công ty cáp chịu bị hạn chế vì cơ sở hạ tầng của họ đòi hỏi phải sử dụng nhiều đất công.

Đôi khi chính phủ áp đặt các rào cản gia nhập vì áp lực vận động hành lang từ các công ty hiện có.

Rào cản gia nhập tự nhiên

Nhận diện thương hiệu và lòng trung thành của khách hàng đóng vai trò là rào cản gia nhập đối với các hãng tham gia tiềm năng.

Chi phí chuyển đổi cao đối với người tiêu dùng cũng là rào cản gia nhập cho những hãng mới tham gia tham gia thị trường gặp khó khăn khi lôi kéo khách hàng tiềm năng trả thêm tiền để thực hiện chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ.

Rào cản gia nhập riêng của một số ngành

Các ngành công nghiệp cũng có những rào cản gia nhập riêng, xuất phát từ bản chất của lĩnh vực kinh doanh cũng như vị trí vững chắc của những công ty đang hoạt động.

Ngành điện tử

Một trong những rào cản chính của ngành sản xuất thiết bị điện tử tiêu dùng phổ biến là lợi thế kinh tế theo qui mô. Điều này có nghĩa là một công ty đã có chỗ đứng trên thị trường có thể dễ dàng sản xuất và phân phối thêm một vài sản phẩm với giá rẻ vì các chi phí như quản lí và thuê nhà xưởng được phân bổ một số lượng lớn sản phẩm.

Một công ty nhỏ cố gắng sản xuất cùng một số sản phẩm chỉ có thể phân bổ chi phí cho một số lượng nhỏ sản phẩm, khiến cho chi phí sản xuất mỗi đơn vị là rất cao.

Ngành dầu mỏ và khí đốt

Rào cản gia nhập ngành dầu khí là vô cùng mạnh mẽ và bao gồm quyền sở hữu tài nguyên, bằng sáng chế và bản quyền liên quan đến công nghệ độc quyền, chính phủ, các qui định môi trường, chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành cố định cao.

Ngành dịch vụ tài chính

Việc thành lập một công ty dịch vụ tài chính mới là rất tốn kém. Chi phí cố định cao và chi phí chìm lớn trong việc sản xuất dịch vụ tài chính cho số đông khiến các công ty khởi nghiệp khó cạnh tranh với các công ty lớn có hiệu quả qui mô.

Rào cản pháp lí giữa các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và các tổ chức khác, chi phí tuân thủ các qui định pháp luật và thậm chí là những đe dọa kiện tụng ngăn chặn các sản phẩm hoặc công ty mới tham gia vào thị trường.

(Theo investopedia)

Well

Well. Lâu rồi không viết gì nhỉ. Hôm nay là cuối tuần nữa rồi. 2 tuần nữa là hết 2 tháng thử việc. Cảm giác dần dần mình cứ như kẻ không hiện diện tại nơi đây vậy. Nơi này có thuộc về mình không. Hay mình có thuộc về nơi này không. Mình không thích những gì quá nhiều người, xô bồ. Có thể vì thế mà theo hướng quản trị. Woa đây là một quyết định có vẻ chuẩn xác nhỉ. Dự án khẩu trang mình đang bị mất niềm tin và đang phải tìm cách tìm lại niềm tin để bán hàng. Có vẻ sự nản lòng trong những lần trước lại quay lại. May mắn là lần này mình đã có nhiều kinh nghiệm hơn để xử lý vấn đề này. Mình sẽ không ngồi yên lo sợ như 2 năm trước nữa. Lần này phải hành động và đạt kết quả thật sự. Chỉ có làm việc, sáng tạo và tạo ra kết quả thì mới mong đạt được những kết quả mà mình mong muốn. Năm 32 tuổi chúng ta sẽ đi đến những nơi chúng ta mong muốn, ăn những gì mình thích. Ngôi nhà sẽ tràn ngập cây xanh và tiếng cười em nhé. Hiện tại nhiều người đáng giá bản thân mình đang gặp vấn đề về sự ổn định. Nhưng thật ra mình chưa bao giờ thích sự ổn định cả. Ổn định làm mình sợ khi phải làm đi làm lại một vài việc. Cho dù mình thích ăn ở nơi quen nhưng lại thích những thử thách mới trong công việc. Lúc đó mình có thể tự do suy nghĩ, hành động và tạo ra kết quả của riêng mình. 25 tuổi mình bắt đầu nói chuyện với bản thân nhiều hơn, bớt làm những thứ điên khùng hơn. Mình cảm giác mình phải chững lại để suy nghĩ chín chắn thật sự về con đường đi sắp tới. Sự giàu có, tự do và tình yêu thương sẽ là phần thưởng lớn nhất cho bản thân mình. Bỏ qua sự sợ sệt, hành động khôn ngoan, tiết kiệm chi tiêu cho những điều không cần. Đó là những điều sắp tới mình sẽ làm. Ở đâu không quan trọng, làm gì cũng chưa quan trọng. 2 năm tới mình sẽ phải phát triển bản thân thật tốt để chuẩn bị cho bước nhảy vọt sắp tới. Cố lên.

Quảng cáo wifi marketing tại trung tâm thương mại

Quảng cáo trên wifi marketing tại trung tâm thương mại là lựa chọn được nhiều nhãn hàng chú tâm đến.


Trung tâm thương mại được biết đến như là địa điểm thu hút rất nhiều người đến nhằm mục đích vui chơi, mua sắm, ăn uống. Số lượng người đến các địa điểm này và truy cập internet là rất nhiều hứa hẹn tiềm năng lớn của các đơn vị quảng cáo khai thác tại đây.

Những người đến trung tâm thương mại có khả năng chi tiêu mua sắm ở mức trung bình khá và có quan tâm nhiều đến wifi miễn phí tại Trung tâm thương mại.

LIÊN HỆ TỰ VẤN 0929 292 606 (Mr Trung)

wifi marketing tại trung tâm thương mại


Hiện tại MegaNet đang là đơn vị độc quyền triển khai và khai thác wifi marketing tại 62 trung tâm thương mại tại Việt Nam


Trung tâm thương mại Gigamall Thủ Đức

Trung tâm thương mại Vinceom Center Landmark 81

Trung tâm thương mại Vạn Hạnh Mall

Chi tiết xem tại đây.

Hình thức tương tác, thiết kế banner đa dạng kênh wifi marketing tại Trung tâm thương mại được nhiều nhãn hàng quan tâm và triển khai thực hiện chiến dịch Branding với chi phí tối ưu nhất.

Trang chào wifi marketing


Để được tư vấn cụ thể và biết thêm về wifi marketing tại Trung tâm thương mại bạn có thể tham gia vào cộng đồng wifi marketing hoặc liên hệ thông tin MegaNet:

Contact: Mạc Văn Trung - Chia sẻ để thành công
Blog: www.macvantrung.com
Email: trung.mac@meganet.com.vn
Phone: 0929 292 606 (Skype,Zalo)
Company: MegaNet - Wifi marketing
Adress: D2 Thất Sơn, P15, Quận 10, Tp HCM.